Các trường hợp Nhãn hiệu trùng, tương tự và cơ chế xử lý vi phạm

08:07 17/09/18

Trên thực tế, một doanh nghiệp tuy đáp ứng các điều kiện bảo hộ nhãn hiệu vẫn có thể bị xâm phạm, tranh chấp nhãn hiệu bởi các chủ thể khác vì nhiều lý do như: cạnh tranh kinh doanh không lành mạnh; vi phạm nguyên tắc quyền ưu tiên; … Sau đây, PHÁP LÝ KHỞI NGHIỆP xin gửi đến quý thành viên một số tranh chấp nhãn hiệu thực tế và những vấn đề pháp lý liên quan.

1. Trường hợp nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu khác đã được đăng ký bảo hộ

Nhãn hiệu “Hảo Hảo” được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa số 62360 cấp ngày 29/04/2005. Nhãn hiệu “Hảo Hạng” được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa 119302 cấp ngày 11/02/2009. Hai nhãn hiệu này có các dấu hiệu khiến người tiêu dùng dễ nhầm lẫn, không có khả năng phân biệt, cụ thể như sau:

- Về nội dung: Cả hai nhãn hiệu đều thể hiện cho cùng loại hàng hóa là mì ăn liền (cùng nhóm 30). “Hảo Hạng” có 8 ký tự trong đó có 05 ký tự trùng, cách phát âm cũng tương tự nhau, âm đầu tiên là “Hảo” vì vậy dễ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Hảo Hảo”.

- Về hình thức: Nhãn hiệu “Hảo Hạng” có cách trình bày kiểu chữ (màu đỏ, nghiêng về bên phải), hình ảnh tô mì, sợ mì, hình ảnh con tôm, chanh, ớt, rau thơm,… với màu sắc chủ đạo (đỏ hồng) của mẫu bao bì tạo nên một tổng thể tương tự, gây cho người tiêu dùng sự nhầm lẫn, không có khả năng phân biệt.

Ngoài ra, nhãn hiệu “Hảo Hảo” đã được cấp văn bằng bảo hộ trước. Như vậy, nhãn hiệu gốc là “Hảo Hảo” và đương nhiên, nhãn hiệu vi phạm là “Hảo Hạng”. Công ty Asia Food đã xâm phạm nhãn hiệu của Vina Acecook nên phải chịu xử lý hành chính và bồi thường tổn thất cho Vina Acecook.

Căn cứ xác định vi phạm nhãn hiệu, xem chi tiết tại bài viết: 08 điều doanh nghiệp phải biết khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.

2. Trường hợp nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại

Tóm tắt tình huống: Công ty  Hưng Thịnh được cấp Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “Hưng Thịnh” ngày 22/01/2001. Ngày 21/9/2001, Công ty Hưng Thịnh thay đổi loại hình doanh nghiệp thành công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh. Cơ sở Hưng Thịnh (với hình thức hộ kinh doanh cá thể) cũng sản xuất kinh doanh nước mắm tại Bình Dương, sử dụng tên thương mại “Hưng Thịnh”. Việc sử dụng tên thương mại này khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn với tên thương mại và nhãn hiệu của công ty Hưng Thịnh. (Xem chi tiết tại: Bản án số 72/2008/KDTM-PT ngày 23/5/2008 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp. HCM).

Như vậy, tên thương mại mà Cơ sở Hưng Thịnh sử dụng có được bảo hộ hay không phải xét đến các tiêu chí sau:

- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng.

Tên thương mại của cả hai công ty đều có thành phần tên riêng là “Hưng Thịnh”. Tuy nhiên, tên thương mại và nhãn hiệu “Hưng Thịnh” được Công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh sử dụng trước và hợp pháp.

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cũng lĩnh vực và khu vực kinh doanh hoặc nhãn hiệu của người khác được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.

Hai cơ sở đều hoạt động trong cùng lĩnh vực là sản xuất nước mắm. Đối với khu vực kinh doanh (nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng), mặc dù kinh doanh ở hai khu vực địa lý khác nhau (Tp. Hồ Chí Minh và Bình Dương). Tuy nhiên, hai khu vực này liền kề nhau và thực tế thấy rằng nhãn hiệu Hưng Thịnh được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên thị trường và có chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều năm liền. Điều đó có thể xác định được, công ty Hưng Thịnh sẽ có nhiều bạn hàng, khách hàng trong thực tế và danh tiếng có thể trải rộng khắp các khu vực (kể cả khu vực cơ sở Hưng Thịnh đang kinh doanh), đồng nghĩa với việc hai công ty có thể có cùng khu vực kinh doanh.

Ngoài ra, nhãn hiệu hàng hóa “Hưng Thịnh” của công ty Hưng Thịnh đã được sử dụng hợp pháp trên thực tế từ năm 2001, trước ngày cơ sở Hưng Thịnh sử dụng tên thương mại này vào hoạt động kinh doanh.

Như vậy, tên thương mại của cơ sở Hưng Thịnh trùng với tên thương mại và nhãn hiệu của công ty Hưng Thịnh, vì vậy tên thương mại của cơ sở Hưng Thịnh không đáp ứng các điều kiện bảo hộ.

3. Cơ chế nào để xử lý và bảo hộ nhãn hiệu bị xâm phạm làm giả, làm nhái?

Trên thực tế có thể chia thành hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ, xong mới phát hiện có tổ chức làm giả, làm nhái sản phẩm mang nhãn hiệu đó.

Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình như:

- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại.

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng xử lý hành chính tùy thuộc vào mức độ xâm phạm nhãn hiệu cũng như thiệt hại mà bên vi phạm gây ra cho chủ sở hữu.

- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trường hợp, mức độ xâm phạm có yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong số các biện pháp nêu trên, biện pháp khởi kiện ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự được nhiều doanh nghiệp quan tâm. Bởi lẽ. biện pháp này thể hiện được ý chí, yêu cầu của chủ sở hữu bị xâm phạm Quyền sở hữu công nghiệp, đảm bảo được nguyện vọng cũng như giá trị bồi thường cho chủ sở hữu.

Trường hợp 2: Nhãn hiệu chưa đăng ký hoặc đang chờ được cấp văn bằng bảo hộ, phát hiện có tổ chức làm giả, làm nhái nhãn hiệu đó.

Luật sở hữu trí tuệ hiện hành không có những cơ chế cụ thể để bảo vệ Quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu) trong trường hợp này, bởi lẽ nó là tài sản vô hình nên rất dễ bị các chủ thể khác xâm phạm. Cách duy nhất để bảo vệ nhãn hiệu của mình tránh bị xâm phạm là nhanh chóng thực hiện việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục Sở hữu trí tuệ).

Trường hợp đã đăng ký bảo hộ nhưng chưa được cấp văn bằng, trong thời gian này, chủ sở hữu cần thu thập các thông tin liên quan như chứng cứ chứng minh nhãn hiệu đó thuộc quyền sở hữu của mình (thời gian tạo ra, thời gian đưa vào hoạt động, nhiều người biết đến nhãn hiệu đó,…); thu thập các chứng cứ chứng minh nhãn hiệu của mình bị xâm phạm;… Để sau khi được cấp văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu nhanh chóng khởi kiện vụ việc ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Lưu ý: Khi chủ sở hữu chưa có văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, chủ thể xâm phạm đã có được văn bằng bảo hộ nhãn hiệu đó. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chấp nhận nhãn hiệu của mình bị xâm phạm mà không có cơ chế để xử lý thõa đáng vì theo Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, nhãn hiệu được bảo hộ theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên “văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ”.

Căn cứ pháp lý:

- Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

- Nghị định 103/2006/NĐ-CP.

Võ Đạt

569
Ý kiến bạn đọc ()

Lưu ý: Khi chủ sở hữu chưa có văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, chủ thể xâm phạm đã có được văn bằng bảo hộ nhãn hiệu đó. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chấp nhận nhãn hiệu của mình bị xâm phạm mà không có cơ chế để xử lý thõa đáng vì theo Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, nhãn hiệu được bảo hộ theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên “văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ”.

trong trường hợp bị người khác ăn cắp ý tưởng và đăng ký trước thì mình có thể thu thập bằng chứng để chứng minh mình đã xây dựng sản phẩm đó trước nhưng chỉ đăng ký chậm hơn không?

(Nguyễn Vũ Thái) - 10/02/2019   Trả lời

Chào anh Thái,
PHÁP LÝ KHỞI NGHIỆP đã nhận được phản hồi của anh tại bài viết , Ban Hỗ trợ có ý kiến trao đổi như sau:
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, về việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ:
"Điều 96. Huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ
1. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu;
b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ."
Đồng thời, căn cứ theo quy định tại Khoản 13 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 thì tổ chức, cá nhân sau đây được quyền đăng ký nhãn hiệu:
“Điều 87. Quyền đăng ký nhãn hiệu
1. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.
2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.
3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:
a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;
b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.
6. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.
7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.”
Vì vậy, trong trường hợp anh tạo ra sản phẩm nhưng không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đối với sản phẩm này mà có người khác ăn cắp và đăng ký nhãn hiệu của anh (người này nộp đơn đăng ký nhưng không có quyền đăng ký) thì anh có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ. Đồng thời anh phải chứng minh được ý tưởng đối với nhãn hiệu này là do mình tạo ra.
Trong trường hợp anh không có đủ cơ sở để chứng minh thì có thể hiểu rằng nhãn hiệu của anh đã bị xâm phạm vì nhãn hiệu được bảo hộ theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên “văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ” (Căn cứ theo quy định tại Điều 10 Nghị định 103/2006/NĐ-CP).
Đây là một trong những rủi ro rất dễ xảy ra khi anh cung cấp hàng hóa của mình ra thị trường nhưng lại không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm của mình. Vì trên thực tế, việc chứng minh này có thể nói là khá phức tạp và tốn nhiều thời gian.
Vậy nên, đối với những sản phẩm hay dịch vụ khác, khi sản xuất hay cung cấp ra thị trường anh nên xem xét đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hay bảo hộ những quyền liên quan khác để tránh những rủi ro có thể phát sinh sau này.
Anh có thể tham khảo công việc dưới đây:
- Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu;
- Đăng ký bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan;
- Đăng ký bảo hộ sáng chế.

( Pháp Lý Khởi Nghiệp ) - 13/02/2019   Trả lời